1.Vai trò của HTX
trong vận tải thuỷ nội địa ở đồng bằng sông cửu Long
-
Đồng bằng sông Cửu Long (còn gọi là vùng Tây Nam Bộ) có 13 tỉnh với tổng diện
tích là 40.604,8 km2 chiếm 12,25% diện tích của cả nước, dân số
17.523,9 triệu người, chiếm 21% dân số cả nước. Đây là vùng sản xuất lương thực
thực phẩm lớn nhất đất nước
-Vùng
có hệ thống sông ngòi chằng chịt với 600km có khả năng cho các phương tiện vận
tải từ 100 tấn trở lên lưu thông. Với
các cảng sông: Cao Lãnh, Long Xuyên, Mỹ Tho, Tân An, Hòn chông, Trà Nóc,
chưa kể cảng biển, sông Cần Thơ rất thuận lợi cho phát triển giao thông thuỷ
nội địa kết hợp với bản sắc văn hoá lâu đời của người dân nơi đây gắn liền với
sông nước.
Ngày nay mặc dù nền kinh tế của
đất nước đã có sự phát triển nhưng hệ thống đường bộ, đường hàng không chưa thể
đáp ứng được sự đi lại, vận chuyển hàng hoá của người dân trong vùng. Do vậy
vận tải thuỷ nội địa vẫn là phương tiện vận tải có hiệu quả nhất ở vùng sông
nước Cửu Long này.
Trong giá thành vận tải thì vận tải
thuỷ nội địa vẫn là hiệu quả nhất bởi chi phí giá thành vận tải rất thấp chỉ
bắng 50% giá thành vận tải đường bộ và khối lượng vận chuyển trên một phương
tiện lớn.
Việc tổ chức vận tải trong khu vực
đang ở giai đoạn hoàn thiện. Do vậy HTX vận tải thuỷ nội giữ vai rất quan
trọng:
- Góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế trong khu vực phát triển, có ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của đời sống, sinh
hoạt của người dân.
- Là nhân tố quyết định đưa nguyên
liệu đến nơi sản xuất và đưa sản phẩm đến nơi tiêu thụ, hạ giá thành sản phẩm.
- Giải quyết việc làm ở nông thôn,
góp phần thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo, giảm bớt di dân.
- Vận chuyển hàng hoá, đặc biệt là
lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu cho thành phố Hồ Chí Minh và xuất khẩu.
- Phát triển giao thông quốc tế với
Campuchia và Thái Lan tận dụng hệ thống sông Mê Kông.
2. Những kết quả đã đạt được của
hợp tác xã vận tải thủy nội địa ở đồng bằng sông Cửu Long
Hiện nay cả nước có 1054 HTX vận
tải trong đó đồng bằng sông Cửu Long có 168 HTX chiếm 15,9% vận chuyển được 45%
hàng hoá và 50% khối lượng vận chuyển hành khách tại địa phương.
Năm 2007 khảo sát 4 tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long với 34 hợp tác xã vận tải thuỷ bộ, các hợp tác xã này đã đạt
tổng doanh thu là: 268,818 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế là 10,370 tỷ đồng, nộp
thuế cho Nhà nước là 10,788.430 tỷ đồng, tổng doanh thu của các HTX vận tải
sông ở 04 tỉnh ĐBSCL so với các HTX ở10 tỉnh đại diện cho các khu vực kinh tế
của cả nước đã chiếm 65,63%.
Để đáp ứng nhu cầu vận chuyển các
đơn hàng lớn, các hợp tác xã đã động viên xã viên thay thế dần các tàu thuyền
vỏ gỗ có tải trọng từ 150 tấn trở xuống bằng những xà lan vỏ thép có tải trọng lớn hơn, đây cũng là một bước
tiến về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong ngành vận tải, việc sử dụng các
phương tiện có trọng tải lớn sẽ làm giảm chi phí vận chuyển làm cho lợi nhuận tăng
lên, đồng thời cũng giảm cả việc khai thác gỗ rừng.
3.
Những bài học rút ra từ quá trình phát triển HTX thuỷ nội địa ở đồng bằng sông
Cửu Long
Thứ
nhất: Cần tránh
tuyệt đối hoá vai trò kinh tế tập thể đi đôi với phủ nhận vai trò kinh tế xã
viên, việc đề cao vai trò của kinh tế
hộ, kinh tế tư nhân và cá thể trong điều kiện kinh tế thị trường là đúng nhưng
về lâu dài cần có chính sách mang tính bền vững để các thành phần kinh tế này
phát triển.
Thứ hai, là cần tránh sự nhầm lẫn mô
hình hợp tác xã với mô hình doanh nghiệp công ty theo luật doanh nghiệp cần
nhận thức rõ hợp tác xã hoạt động như doanh nghiệp chứ không phải là doanh
nghiệp và cũng không phải là tổ chức từ thiện.
Thứ
ba,cần nghiên cứu mô hình áp dụngmô hình HTX phù hợp
với khu vực đồng bằng sông Cửu Long của
quốc tế trong phát triển hợp tác xã, nhất là tính pháp lý về hợp tác xã, giá
trị và nguyên tắc của hợp tác xã đã mang tính phổ biến toàn cầu.
Thứ tư, cần nhận thức một cách thực tế
rằng phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã là con đường nhanh chóng để thực
hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, bởi thực tế cho thấy kinh tế tập
thể tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại
hoá có hiệu quả nhất và nhanh nhất.
3.1 Những tồn tại,
nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết đối với mô hình hợp tác xã
vận tải thủy nội địa hiện nay ở đồng bằng sông Cửu Long
3.1.1 Những tồn tại trong mô hình HTX vận tải thuỷ
nội địa ở đồng bằng sông Cửu Long
Thứ
nhất, trình độ
quản lý kinh tế của ban quản trị, kế toán còn yếu (chủ yếu là trung cấp và sơ
cấp) nên ảnh hưởng nhiều đến việc tổ chức quản lý và điều hành hợp tác xã, cán
bộ hợp tác xã hầu hết trưởng thành qua thực tế, chưa được đào tạo nên trình độ
chuyên môn nghiệp vụ chưa cao, trình độ quản lý còn hạn chế làm cho hoạt động
của hợp tác xã kém hiệu quả, không phát huy hết tính ưu việt của hợp tác xã,
chưa đạt được mục tiêu, mục đích khi thành lập.
Thứ
hai, ngoại trừ
moat số hợp tác xã điển hình có quy mô lớn tập trung sản xuất như HTX Rạch Gầm
… còn hầu hết HTX hoạt động theo mô hình dịch vụ hỗ trợ, xã viên góp vốn thông
qua phương tiện, cho nên hợp tác xã chưa chủ động được về hoạt động kinh doanh
và kết quả kinh doanh, mà xã viên phải chủ động tìm nguồn hàng vận chuyển và
chỉ phải nộp một khoản tiền để chi phí cho hoạt động bộ máy quản lý hợp tác xã,
hỗ trợ xã viên trong một số trường hợp và giải quyết các giao dịch vướng mắc.
Thứ
ba, nhiều hợp
tác xã hoạt động còn khó khăn, kém hiệu quả, trong thực tế mới chỉ tập trung
được những người có phương tiện vận tải hiện có đang hoạt động nhưng không đủ điều kiện kinh doanh theo quy
định của pháp luật, khi hoạt động trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh
tranh gay gắt của các thành phần kinh tế khác do năng lực cạnh tranh thấp không
thể đứng vững một mình được buộc phải ra nhập hợp tác xã.
Thứ
tư, cơ sở vật
chất của các hợp tác xã chưa mạnh, phương tiện vận tải mặc dù đã được đầu tư để
đổi mới nhưng chưa đáp ứng với nhu cầu vận tải .Nhiều hợp tác xã không có tài
sản chung hoặc chưa có khả năng tích luỹ vốn để đầu tư, thu nhập của xã viên ở
một số hợp tác xã còn thấp, đa phần các hợp tác xã không được cấp đất hoặc cho
thuê đất làm bến bãi.
3.1.2
Những nguyên nhân yếu kém trong mô hình hợp tác xã vận tải thuỷ nội địa ở đồng
bằng sông Cửu Long
Thứ
nhất, hoạt động
của các hợp tác xã thời gian qua đã bộc lộ một số nhược đểm, chủ yếu trong công
tác xây dụng mô hình quản lý, xã viên hiểu biết về hợp tác xã kiểu mới, về lợi
ích, nghĩa vụ của trách nhiệm của mình rất kém.
Thứ
hai, nhận thức
về bản chất, vai trò, tính tất yếu khách quan của hợp tác xã chưa đầy đủ và
thiếu thống nhất. Một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên ở trung ương và địa
phương hiểu chưa đúng về hợp tác xã, đánh đồng hợp tác xã với doanh nghiệp, cho
rằng phát triển hợp tác xã là không cần thiết, là khiêng cưỡng, gò ép theo định
hướng xã hội chủ nghĩa
Thứ
ba, quản lý Nhà
nước của các cấp đối với khu vực hợp tác xã chưa ngang tầm với yêu cầu vẫn còn
lúng túng trong tổ chức chỉ đạo, chưa quan tâm đến tháo gỡ các khó khăn và tạo
điều kiện cho hợp tác xã phát triển. Việc xây dựng và thực hiện các chính sách
về hợp tác xã vừa thiếu kịp thời, vừa không đồng bộ. Các chính sách đối với hợp
tác xã hiện nay nhìn chung còn hạn chế, tác dụng thấp không hấp dẫn, chưa đủ
tầm và đủ lực, không tạo được động lực thúc đẩy khu vực hợp tác xã đổi mới, phát
triển.
3.1.3 Những vấn đề
đặt ra cần giải quyết
Ở nước ta vấn đề hiện đại hoá vận
tải thuỷ nội địa đã được quan tâm, nhưng chưa đầy đủ. Ví dụ trong tài liệu
“Nghiên cứu tổng quan chiến lược phát triển giao thông Việt Nam đến năm 2020”,
khi xác định nhu cầu vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông đến năm 2020 thì
đầu tư cho giao thông thuỷ nội địa chiếm tỷ trọng quá thấp, chỉ bằng 0.43% so
với tổng nhu cầu đầu tư chung vào giao thông vận tải và bằng 0.69% so với nhu
cầu đầu tư vào mạng lưới giao thông vận tải quốc gia.
Đặc điểm riêng của vận tải thuỷ
nội địa là không chỉ tham gia vào mạng lưới giao thông vận tải như một phương
thức vận tải, mà còn là một thành phần quan trọng của chương trình xoá đói giảm
nghèo ở nông thôn, giải quyết việc làm trong nông nghiệp, giảm bớt tình trạng
di dân tự do về các thành phố lớn, giao lưu văn hoá giữa các vùng với nhau,
giảm bớt được mật độ xe lưu thông trên đường bộ, quản lý nguồn nước.
3.2. Mục tiêu phát triển mô hình HTX vận tải thủy
nội địa ở đồng bằng sông Cửu Long
v
Dự
báo khối lượng vận chuyển hàng hoá và hành khách
Bảng
3
DỰ BÁO KHỐI LƯỢNG VẬN CHUYỂN HÀNG
HOÁ VÀ HÀNH KHÁCH ĐẾN NĂM 2020 CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
|
Chuyên ngành
|
Đơn vị
|
Năm
2010 khối lượng
|
Năm2010 %
|
Năm 2020 khối
lượng
|
Năm 2020 %
|
|
Hàng hoá
|
Triệu tấn
|
85
|
|
130
|
|
|
Đường bộ
|
Triệu tấn
|
25
|
30
|
33
|
30
|
|
Đường thuỷ
Nội địa
|
Triệu tấn
|
60
|
70
|
97
|
70
|
|
Hành khách
|
Triệu
khách
|
660
|
|
1.320
|
|
|
Đường bộ
|
Triệu
khách
|
460
|
70
|
990
|
75
|
|
Đường Thuỷnội địa
|
Triệu
khách
|
200
|
30
|
330
|
25
|
Nguồn
số liệu: Viện chiến lược – Bộ giao thông vận tải
Theo số liệu trên dự báo đến năm
2010 trong số 85 triệu tấn hàng hoá vận chuyển trong khu vực thì vận tải đường
sông chiếm hơn 2/3, đến năm 2020 là 70%; Đối với vận tải hành khách đến năm
2010 là 200 triệu khách chiếm 30% tổng số khách vận chuyển.
v
Mục
tiêu cơ bản để phát triển các hợp tác xã vận tải thuỷ nội địa ở đồng bằng sông
Cửu Long
a. Phát triển HTX vận tải thuỷ
nội địa nhằm mục đích thu hút những người kinh doanh nhỏ, trình độ năng lực
thấp liên kết lại với nhau để kinh doanh vận tải. Huy động các nguồn vốn trong
dân để nâng cao năng lực, chất lượng vận tải, góp phần giải quyết vấn đề nông
nghiệp, nông thôn và nông dân. Củng cố và phát triển các HTX vận tải, tạo điều
kiện để các cá nhân, hộ gia đình kinh doanh vận tải, dịch vụ bốc xếp, dịch vụ
cơ khí sửa chữa phương tiện vận tải… thành lập mới hoặc tham gia hợp tác xã.
b. Thúc đẩy việc nâng cao chất
lượng cán bộ quản lý, tiếp cận và huy động tối đa các nguồn vốn để đầu tư đổi
mới phương tiện, tăng năng lực vận tải, từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ
vận tải trong các hợp tác xã giao thông vận tải. Phát triển HTX, phục vụ thực
hiện thắng lợi đường lối và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất
nước. Đáp ứng những nhu cầu kinh tế, văn hoá, xã hội của đông đảo tầng lớp dân
cư.
c. Ở đồng bằng sông Cửu Long hiện
nay, kinh tế hàng hoá ngày càng phát triển, các hộ sản xuất hàng hoá, các cơ sở
kinh doanh nhỏ và vừa trong mọi lĩnh vực, ngành nghề đang và sẽ phát triển
nhanh, thay thế dần các hộ kinh tế gia đình, tự cung tự cấp. Trong điều kiện
cạnh tranh gay gắt và hội nhập, nhu cầu hợp tác sẽ trở thành cấp thiết đối với
họ. Do vậy, phát triển HTX hướng tới
liên kết rộng rãi các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc
mọi lĩnh vực, thành phần kinh tế.
d. Tận dụng lợi thế của hệ thống
sông ngòi sẵn có để giảm chi phí vận tải, tăng khả năng vận chuyển hàng hoá
nhất là lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, đáp ứng nhu cầu của thị
trường, khu vực miền Đông Nam Bộ, thành phố Hồ Chí Minh và xuất khẩu. Hoàn thành
được khối lượng vận chuyển hàng hoá, hành khách trong vùng góp phần tăng trưởng
GDP, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho nông dân.
e. Phát triển HTX vận tải thuỷ
nội địa gắn liền với công cuộc công nghiệp hoá trong nông nghiệp và hiện đại
hoá phương tiện vận tải.
3.3 Những nhóm giải
pháp cơ bản nhằm phát triển HTX vận tải thủy nội địa ở đồng bằng sông Cửu Long
đến năm 2010 và 2020
Nhóm giải pháp về
vĩ mô
Một
là, Cần làm cho
cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn các quan điểm
phát triển kinh tế tập thể đã xác định trong Nghị quyết số 13-NQ/TW Hội nghị
Trung ương 5 (khoá IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả
kinh tế tập thể, tránh quan niệm đồng nhất HTX với doanh nghiệp hoặc HTX với tổ
chức xã hội
Hai
là, nâng cao hơn
nữa vai trò quản lý của Nhà nước đối với HTX. Đặc biệt quan tâm đến việc bố trí
cán bộ chuyên trách có nhiệm vụ theo dõi HTX ở huyện và cán bộ bán chuyên trách
ở cấp xã.
Ba
là, phát huy vai
trò của Liên minh HTX Việt Nam. Các cấp cần phải hoàn thiện tổ chức, hoạt động
theo hướng gắn kết chặt chẽ với các HTX, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các
HTX và tập trung hơn nữa vào công tác hỗ trợ đối với HTX, xã viên, đặc biệt
trong các lĩnh vực đào tạo, hỗ trợ về vốn, thông tin kinh tế, tổ chức tiêu thụ
sản phẩm, tư vấn pháp lí, kế toán kiểm toán, khoa học công nghệ
Bốn
là, Bộ giao
thông vận tải thường xuyên làm việc trực tiếp với các địa phương, các HTX trong
ngành để tìm hiểu tình hình thực tế, xây dựng đề án phát triển HTX trong toàn
ngành nói chung và tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, làm tốt công
tác thống kê hàng năm trên quy mô toàn quốc để có những dự báo phát triển trong
tương lai. Có chương trình thực hiện hợp tác quốc tế về hợp tác xã giao thông
vận tải.
Năm
là, các Sở giao
thông vận tải, Sở Giao thông công chính phối hợp với các ngành, các cấp có liên
quan ở địa phương để quản lý, theo dõi hoạt động của các HTX, đồng thời có
những đề xuất về cơ chế, chính sách, biện pháp phù hợp với thực tế sản xuất
kinh doanh của HTX ở địa phương.
Nhóm giải pháp về
vi mô
Một
là,Các hợp tác
xã cần hỗ trợ lẫn nhau vượt qua được những thách thức hiện nay trên cơ sở các
quan điểm: HTX là tổ chức cộng đồng của người dân trên tinh thần tự lực, tự trợ
giúp, tự chịu trách nhiệm, vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội.
Hai là, xây dựng các mô hình, tăng cường nghiên cứu, khảo
sát thực tế phát triển và nhân rộng các mô hình HTX hoạt động đúng các quy định
pháp luật, có hiệu quả, chú trọng các HTX điều hành tập trung có chiều hướng
phát triển ổn định,
Ba
là, Giải quyết
thoả đáng các lợi ích của xã viên và tập thể trong các HTX vận tải, nâng cao
năng lực và chất lượng vận tải, tăng cường tích luỹ vốn để tái đầu tư, tiếp tục
củng cố, phát triển các HTX.
Bốn
là, cần tập
trung củng cố và tăng cường tiềm lực kinh tế tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật
vốn quỹ tập thể (sở hữu tập thể) và nguồn lực con người. Đẩy mạnh liên kết giữa
các HTX với nhau cả về mặt kinh tế, xã hội và về tổ chức, từng bước hình thành
các liên hiệp HTX chuyên ngành, đa ngành vững mạnh và phát triển với quy mô
khác nhau, từ liên hiệp HTX huyện, tỉnh tới các liên hiệp HTX hoạt động liên
tỉnh, liên vùng và trong phạm vi cả nước.
Bài đăng trên Tạp chí Giao thông vận tải 12/2008